+ Trả Lời Ðề Tài + Gởi Ðề Tài Mới
Trang 1/8 1 2 3 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 71

Ðề tài: Hướng dẫn các bước làm thơ cơ bản

  1. #1
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Chủ Đề: Hướng dẫn các bước làm thơ cơ bản

    ►Lượt Xem: 7896 ►Trả Lời: 70
    ►Chia Sẻ:
    ►Ngày Gửi: 26-01-2012 ►Đánh Giá: 5 ►Ủng Hộ: (hãy bấm vào nút +1)

    Hướng dẫn các bước làm thơ cơ bản

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    (HGTH.VN) Diễn đàn thơ Hạt Giống Tâm Hồn chúng ta ngày càng có nhiều bạn thơ tham gia. Tuy Hạt Giống Tâm Hồn không phải là một trang web chuyên văn học, nhưng với tài năng, với tên tuổi của các thành viên tham gia diễn đàn thơ; rõ ràng diễn đàn thơ của chúng ta ngày càng có vị thế không kém so với các trang web văn học khác. Tuy nhiên khi xem qua các topic thơ anh Văn có vài nhận xét sau:

    1. Có nhiều bạn cố ý làm thơ Đường Luật, một loại thơ bác học không dễ làm. Anh Văn chỉ khuyên thế này nếu không làm được thì đừng có cố. Hoặc muốn làm thơ Đường Luật thì các bạn hãy nên học cho kỹ các phép đối, luật, thanh... rồi hãy đưa bài lên cho thiên hạ biết sáng tác của mình. Có nhiều người được các nhà thơ khác gọi là nhà thơ hẳn hoi, nhưng do chỉ làm thơ mới, khi sáng tác thơ Đường Luật dễ bị lỗi, họ vẫn bị các nhà thơ Đường Luật mỉa mai, chế giễu gọi các nhà thơ đó là làm thơ Đường Luật theo kiểu Luật Đi Đường!

    2. Nhiều bạn hiểu một cách sai lầm thơ tự do là loại thơ không cần vần nên muốn làm thơ sao cũng được. Thật ra thơ tự do không cần có vần nhưng phải có nhiều hình ảnh thật đắc và biết cách chọn lọc, biết diễn đạt từ và ý thật mới lạ. Làm thơ tự do nếu nói ra còn khó hơn cả làm thơ có vần.

    Topic này chỉ là topic Hướng dẫn các bước làm thơ cơ bản, hoàn toàn không phải topic dạy làm thơ. Nếu dạy làm thơ được thì khoảng gần 10.000 giáo viên dạy văn của tp.HCM đều đã là nhà thơ hoặc nhà văn hết rồi (trong khi Hội nhà văn tp HCM chỉ có khoảng trên 360 người, trong đó nhà thơ chỉ có khoảng chừng 150 người). Anh Văn chỉ là giáo viên dạy vật lý nên sẽ không bình luận bài thơ nào của các bạn dù bài thơ đó hay hoặc dở. Do đó yêu cầu các bạn không hỏi những gì thuộc về sáng tác của các bạn để tránh spam. Mong các bạn thông cảm




    +3 EXP

    Bài viết ngẫu nhiên trong diễn đàn:

    • » Yếm nâu !
    • » Mùa hoa ký ức
    • » Thơ HoaTimVo:Họa Tranh_LanChi
    • » Lại rộ lên những bài văn tốt nghiệp dở...
    • » Cười nghiêng ngả với bộ ảnh ‘tự sướng’...
    • » Kỳ 123: Rộn ràng sắc xuân
    • » [MV HD] Xin Lỗi Em - Noo Phước Thịnh
    • » Face - Nu'est
    • » [Avatar] Mỗi góc nhìn
    • » Về hưu-tặng ông già Zui

    Bài viết ngẫu nhiên cùng mục:

    • » Thơ văn Thanh Trắc Nguyễn Văn (2014)
    • » Họa thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn trên...
    • » Tâm sự Thanh Trắc Nguyễn Văn qua thơ
    • » Hướng dẫn các bước làm thơ cơ bản
    • » Bình thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn
    • » Xướng họa bài thơ Tìm em
    • » Thơ tranh Thanh Trắc Nguyễn Văn (2014)
    • » Trao đổi với bạn trunghai
    • » Xướng họa bài thơ: Thơ tình viết ở Bến...
    • » Thập đại Mỹ Nhân hgth.net năm 2011
    Share |

  2. Đã có 10 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (28-01-2012), cass_dbsk_chunsu (27-01-2012), hateyou (26-01-2012), HÀN PHONG (08-04-2012), HGTH.VN (27-01-2012), Ngược.Bầu.Trời (26-01-2012), thienthanh (01-02-2012), Toshiro_tonfa (26-01-2012), Tre xanh (26-01-2012), Vịt Lùn (24-03-2012)

  3. #2
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 1:

    Mục đích tối cao của luật thơ là giúp cho ta phương tiện sáng tạo âm điệu một cách dễ dàng. Nhưng tuân theo luật thơ một cách ngoan cố thì sẽ làm cho tác phẩm có lúc bị miễn cưỡng, khô cứng mất đi cái hồn của thơ.

    Cho nên ngoài luật thơ thì người làm thơ phải có hứng thú có ngoại vật cảm kích và phải có tính tình, có chân tâm như thế khi làm thơ tư tưởng mới không bi lạc đi nơi khác.

    Dưới đây là môt số luật thơ cơ bản:

    1. ÂM
    +. Nguyên âm: gốc của một chữ hay nhiều chữ
    - a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, i,……
    - oa, ua, ưa, ue, uê, uy, ai, ay, ây, oi, ôi, ơi, …
    +. Phụ âm: những chữ khác nguyên âm
    - b, c, d, g, h, l, m, n, p, q, r…
    - ch, gh, kh, th, nh, ng, ....

    2. THANH
    +. Thanh Bằng: gồm các chữ không dấu và có dấu huyền
    +. Thanh Trắc: gồm các chữ có dấu sắc, hỏi, ngã và nặng

    3. VẦN : là hai chữ có cùng âm và cùng thanh

    4. VẬN: là cách gieo vần trong câu, có một số cách gieo vần như sau:
    +. Cước vận : là cách gieo vần ở cuối câu
    +. Yêu vận : là cách gieo vần ở giữa câu
    +. Liên vận : là cách gieo vần ở hai câu đi liền nhau
    +. Cách vận : là cách gieo vần ở hai câu cách nhau
    +. Chính vận : là vần mà hai chữ hoàn toàn giống nhau về âm
    +. Cưỡng vận : là vần mà hai chữ có âm tương tự nhau
    +. Liên châu vận: là cách gieo vần nối liền nhau như chuỗi hạt châu

    5. ĐIỆU
    +. Điệu là nhịp, là tiết tấu, là âm tiết.
    +. Thi điệu lấy câu làm âm tiết, câu lại có âm tiết của câu, gọi là cú điệu. Mỗi cú điệu gồm nhiều âm tiết, tức nhiều nhịp.

    (sưu tầm)



    +2 EXP
    Share |

  4. Đã có 8 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (28-01-2012), cass_dbsk_chunsu (27-01-2012), hateyou (26-01-2012), HÀN PHONG (08-04-2012), Ngược.Bầu.Trời (26-01-2012), thienthanh (01-02-2012), Toshiro_tonfa (26-01-2012), Tre xanh (26-01-2012)

  5. #3
    Kim Thiền Tử
    Toshiro_tonfa's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Nơi Cư Ngụ: BR-VT
    Bài gởi: 1,013
    Ðang: Toshiro_tonfa is offline
    Credits 14,809
    Được cám ơn: 2,144 lần
    13
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Thơ là tiếng nói của tâm hồn, vậy thì hãy để nó đến từ trái tim muốn sẻ chia và đến với trái tim có thể cảm nhận, tình cảm con người đã phức tạp lắm rồi, sao phải để cho phương tiện truyền đạt tình cảm thêm phức tạp?
    One Dan Black Belt - Nhất đẳng huyền đai

    Một tác phẩm dài chưa hoàn thành, nhưng là nhiều câu chuyện ngắn đang hằng ngày tiếp diễn

    http://www.facebook.com/OneDanBlackBelt

    Share |

  6. Đã có 7 thành viên nói cảm ơn tới Toshiro_tonfa cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (28-01-2012), boy_club45 (26-01-2012), cass_dbsk_chunsu (27-01-2012), hateyou (26-01-2012), HÀN PHONG (08-04-2012), HGTH.VN (27-01-2012), Tre xanh (26-01-2012)

  7. #4
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 2:

    TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
    (Phần đầu)


    Từ là gì?
    Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.

    Ví dụ:
    nhà, người, áo, cũng, nếu, sẽ, thì,...
    đường sắt, sân bay, dạ dày, đen sì, dai nhách...

    1. Đơn vị cấu tạo

    Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết.

    Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không như nhau.

    1.1. Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết (morphemesyllable) – âm tiết có giá trị hình thái học

    - Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết (syllable).
    - Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện. Chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ). Sự có mặt hay không có mặt của một tiếng trong một "chuỗi lời nói ra" nào đó, bao giờ cũng đem đến tác động nhất định về mặt này hay mặt khác.

    Ví dụ:
    đỏ – đo đỏ – đỏ đắn – đỏ rực – đỏ khé – đỏ sẫm...
    vịt – chân vịt – chân con vịt...

    1.2. Xét về ý nghĩa, về giá trị ngữ pháp, về năng lực tham gia cấu tạo từ... không phải tiếng (hình tiết) nào cũng như nhau

    Trước hết có thể thấy ở bình diện nội dung:

    a. Có những tiếng tự nó mang ý nghĩa, được quy chiếu vào một đối tượng, một khái niệm như: cây, trời, cỏ, nước, sơn, hoả, thuỷ, ái...

    b. Có những tiếng tự thân nó không quy chiếu được vào một đối tượng, một khái niệm, nhưng có sự hiện diện của nó trong cấu trúc từ hay khong, sẽ làm cho tình hình rất khác nhau. Đó là chưa kể không ít trường hợp đã tìm ra nghĩa của chúng trong quá khứ lịch sử của tiếng Việt. Chúng, nhiều khi là kết quả của hiện tượng hao mòn ngữ nghĩa (desemantic) đến mức tối đa như vẫn thường gặp. Ví dụ: (dai) nhách; (xanh) lè; (áo) xống; (tre) pheo; (cỏ) rả; (đường) sá; (e) lệ; (trong) vắt; (nắng) nôi;...

    c. Có những tiếng tương tự như loại b. vừa nêu, nhưng chúng lại xuất hiện trong những từ mà tất cả các tiếng tham gia tạo từ đều như thế cả (đều không quy chiếu vào một khái niệm, một đối tượng, nếu tách rời nhau). Ví dụ: mồ – hôi – bồ – hòn – mì – chính – a – pa – tít... Các từ ở đây có thể thuộc nguồn gốc Việt như: mồ hôi, bồ hòn... nhưng cũng có thể thuộc nguồn gốc ngoại lai như: mì chính, a-pa-tít...

    Sự tranh luận về giá trị và ý nghĩa của tiếng, thực sự chỉ tập trung ở những tiếng thuộc loại b. và c., nhất là loại c. Tuy nhiên, tư cách và giá trị tương đương với hình vị trong tiếng Việt vẫn có thể chứng minh được (mặc dù chưa thực sự có sức thuyết phục tuyệt đối cho tất cả mọi trường hợp) qua các hiện tượng tách rời, lặp, chen thành tố, rút gọn... Ví dụ:
    sung sướng – ăn sung mặc sướng
    (quần) xi mi li – (quần) xi
    v.v...

    Mặt khác, cũng cần thấy rằng các tiếng thuộc loại c. này không chiếm số lượng nhiều trong tiếng Việt; và đa số trong số đó lại thuộc nguồn gốc ngoại lai. Chúng thuộc phạm vi ở vùng biên chứ không phải ở vùng tâm của tiếng Việt. Hơn nữa, mặt dù chưa có những chứng cứ đầy đủ về mặt tâm lí ngôn ngữ học, nhưng chúng ta cũng phải lưu ý đến một điều là: trong ứng xử ngôn ngữ, dường như người Việt luôn luôn có tâm lí chờ đợi ở mỗi tiếng (bất kể tiếng đó như thế nào) một phần nghĩa nào đấy; hoặc sẵn sàng cấp cho nó một nghĩa nào đấy. Nếu không vậy thì làm sao người ta có thể chấp nhận được những tiếng, những câu như sau: “Trời đất khen sao khéo khéo phòm” của Hồ Xuân Hương?

    Nói tóm lại, trong Việt ngữ học hiện nay, nếu lấy tiêu chí “có chỉ ra, có quy chiếu vào đối tượng nào, khái niệm nào hay không” thì người ta vẫn quen phân loại và gọi các tiếng thuộc loại a. kể trên là loại tiếng có nghĩa; còn các tiếng thuộc loại b. và c. là tiếng vô nghĩa.

    1.3. Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào tiêu chí: “có khả năng hoạt động tự do hay không” để chia các tiếng thành hai loại:

    x – Loại tiếng tự do: Có thể hoạt động tự do trong lời nói với tư cách từ. Thật ra thì chúng là những tiếng mà tự thân một mình đã đủ khả năng tạo thành từ. Chẳng hạn: làng, xã, người, đẹp, nói, đi...

    y – Loại tiếng không tự do: Loại này gồm hai nhóm:

    + Những tiếng không tự do nhưng tự thân chúng có mang nghĩa: thuỷ, hoả, hàn, trường, đoản, sơn...
    + Những tiếng không tự do mà tự thân không mang nghĩa: (lạnh) lẽo; (đen) nhánh; mồ, hôi, cà, phê...

    Tuy nhiên, ranh giới của các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối. Cần phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, phạm vi này với phạm vi kia.

    (Nguồn Dây Tơ Hồng)



    +5 EXP
    Share |

  8. Đã có 4 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (28-01-2012), HÀN PHONG (08-04-2012), HGTH.VN (28-01-2012), thienthanh (01-02-2012)

  9. #5
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 3:

    TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
    (Phần hai)


    2. Phương thức cấu tạo

    Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng các dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó.

    2.1. Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết). Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng.

    Ví dụ: tôi, bác, người, nhà, cây, hoa, trâu, ngựa...
    đi, chạy, cười, đùa, vui, buồn, hay, đẹp...
    vì, nếu, đã, đang, à, ư, nhỉ, nhé...

    2.2. Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép

    Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:

    Từ ghép đẳng lập. Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng.

    Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa. Khi dùng mỗi thành tố như vậy để cấu tạo từ đơn thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố này không trùng nhau.

    So sánh: ăn ≠ ăn ở ≠ ăn nói ≠ ở ≠ nói...

    Thứ hai, một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố không rõ nghĩa. Trong hầu hết các trường hợp, những yếu tố không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng bị bào mòn dần đi ở các mức độ khác nhau. Bằng con đường tìm tòi từ nguyên và lịch sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng. Ví dụ: chợ búa, bếp núc, đường sá, tre pheo, cỏ rả, sầu muộn, chó má, gà qué, cá mú, xe cộ, áo xống...

    Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp. Đây là một trong những điểm làm cho nó khác với từ ghép chính phụ.

    Từ ghép chính phụ. Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính. Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà... xấu bụng, tốt mã, lão hoá... xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thằng tắp, sưng vù...

    (Nguồn Dây Tơ Hồng)



    +3 EXP
    Share |

  10. Đã có 3 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (28-01-2012), HGTH.VN (28-01-2012), thienthanh (01-02-2012)

  11. #6
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 4:

    TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
    (Phần ba)


    2. Phương thức cấu tạo (Tiếp theo)

    2.3. Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).

    Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt.

    Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối). Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần. Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành... thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy. Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau:

    Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau:

    Láy hoàn toàn. Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu tố được gọi là yếu tố láy. Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn:

    a. Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài). Ví dụ: cào cào, ba ba, rề rề, lăm lăm, khăng khăng, kìn kìn, lù lù, lâng lâng, đùng đùng, hây hây, gườm gườm, đăm đăm...
    b. Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu. Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; và bằng đứng trước, trắc đứng sau.

    BẰNG............................TRẮC
    Ngang (1)...............Hỏi (4) Sắc (5)
    Huyền (2)...............Ngã (3) Nặng (6)

    Ví dụ: đo đỏ, ra rả, hây hẩy, hau háu, hơ hớ, ngay ngáy, phơi phới, sừng sững, chồm chỗm, vành vạnh, lừng lững, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng...
    Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một số ngoại lệ như: cỏn con, dửng dưng, mảy may, cuống cuồng...
    c. Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo quy luật dị hoá:

    m – p ng – c
    n – t nh – ch

    Ví dụ: ăm ắp, chiêm chiếp, cầm cập, lôm lốp, hèm hẹp...
    chan chát, khin khít, sồn sột, thon thót, ngùn ngụt...
    khang khác, vằng vặc, rừng rực, phưng phức, phăng phắc...
    anh ách, chênh chếch, đành đạch, phành phạch, rinh rích...
    Thanh điệu của các yếu tố trong mỗi từ vẫn tuân theo quy luật của lớp b.

    Láy bộ phận. Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần thì được gọi là láy bộ phận. Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phận thành hai lớp.

    a. Lớp từ láy (điệp) âm đầu, đối ở phần vần. Ví dụ như: bập bềnh, cò kè, ho he, thơ thẩn, đẹp đẽ, làm lụng, ngơ ngác, say sưa, xoắn xuýt, vồ vập, hấp háy...

    Trong lớp này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn không phải là từ láy, nhưng vì quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi, làm cho quan hệ ngữ âm ngẫu nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, và hiện giờ người Việt nhất loạt coi chúng là từ láy. Ví dụ: chùa chiền, tuổi tác, giữ gìn, sân sướng... Nghĩa của những từ như vậy được tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo, chó má, đường sá, xe cộ, áo xống...

    Trong khi xét sự đối vần ở đây, cũng cần lưu ý tới hiện tượng đối ứng ở âm chính. Hiện tượng này không phải là quy luật toàn thể, nhưng đều đặn ở một số nhóm từ.


    u đối với i: cũ kĩ, hú hí, xù xì, tủm tỉm, mũm mĩm...
    ô – ê: ngô nghê, xồ xề, hổn hển, thỗn thện...
    o – e: ho he, vo ve, khò khè, võ vẽ, nhỏ nhẻ...
    i – a: hỉ hả, rỉ rả, xí xoá, hí hoáy...
    u – ă: tung tăng, hung hăng, vùng vằng, thủng thẳng...
    u – ơ: ngu ngơ, rù rờ, khù khờ, cũn cỡn...
    ô – a: bỗ bã, hốc hác, mộc mạc, ngột ngạt...
    ê – a: nghê nga, khề khà, rề rà, xuề xoà, hể hả...


    b. Lớp từ láy (điệp) phần vần, đối ở âm đầu. Ví dụ như: bâng khuâng, bơ vơ, lừng chừng, lù đù, lã chã, càu nhàu, lỗ mỗ, thao láo, hấp tấp, tủn mủn, lụp xụp, lảng vảng, lúng túng, co ro, lan man, làng nhàng...

    Gần nửa số lượng từ láy vần có âm đầu của tiếng thứ nhất là âm /l-/ và phần lớn chúng có chứa một tiếng còn rõ nghĩa. Tuy vậy, vẫn có không ít từ mà cả hai tiếng đều không rõ nghĩa, ví dụ: bải hoải, hấp tấp, lập cập, bầy hầy, thình lình, liểng xiểng, xớ rớ, lấc cấc...

    Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng. Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, trơ trờ trờ... đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng...

    Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều. Mặt khác, có thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi. Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn – nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp...). Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt; trụi lủi – trụi thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt... Từ láy bốn tiếng thì tình hình cấu tạo có đa tạp hơn. Có thể là:

    - "Nhân đôi" từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành e, a, ơ, à cho phù hợp, hài hoà về âm vực giữa các vần, các thanh:

    vớ vẩn → vớ va vớ vẩn
    lề mề → lề mà lề mề...

    - "Nhân đôi" từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp: bồi hồi – bổi hổi bồi hồi.
    - "Nhân đôi" từng tiếng của từ láy hai tiếng:

    hùng hổ → hùng hùng hổ hổ
    vội vàng → vội vội vàng vàng...

    - Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, nhưng biến âm đầu của tiếng thứ nhất và thứ ba thành /l-/:

    nhồm nhoàm → lồm nhồm loàm nhoàm
    thơ thẩn → lơ thơ lẩn thẩn...

    Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên; hoặc từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một. Chẳng hạn: bù lu bù loa; bông lông ba la... hoặc bắng nhắng – bắng nha bắng nhắng; bắng nhắng bặng bặng nhặng...

    Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị, nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó về nghĩa. Điều này cần được khảo sát riêng tỉ mỉ hơn.

    2.4. Từ các kiểu từ đã trình bày trên đây, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo (các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa.

    Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là các từ ngẫu hợp với ngụ ý: các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên. Lớp từ này có thể bao gồm:

    - Những từ gốc thuần Việt: bồ câu, bồ hòn, bồ nông, mồ hóng, mồ hôi, kì nhông, cà nhắc, mặc cả...

    - Những từ vay mượn gốc Hán (hoặc phiên âm qua âm Hán Việt) thông qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ (trong số này có những từ mà từng thành tố của chúng trước đây vốn rõ nghĩa, nhưng nay không được người Việt nhận thức nữa).

    Ví dụ: mâu thuẫn, hi sinh, trường hợp, kinh tế, câu lạc bộ, mì chính, tài xế, vằn thắn, lục tàu xá...

    - Những từ vay mượn gốc Ấn-Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ như: a-xít, mit tinh, sơ mi, tùng bê, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao, hắc ín, sô-cô-la...

    Bộ phận từ này trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do các mối quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ ngữ, nhất là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật.

    (Nguồn Dây Tơ Hồng)



    +5 EXP
    Share |

  12. Đã có 3 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    6941ƃuopƃuonɥdıɐƃoɔ (29-01-2012), MinhMinh (07-02-2012), thienthanh (01-02-2012)

  13. #7
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 5:

    TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
    (Phần cuối)


    3. Biến thể của từ

    Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc. Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Ở đây chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến động hoặc dạng "lời nói" của từ. Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả mọi từ. Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng mà thôi. Đại thể có những dạng biến động như sau:

    3.1. Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn.
    Ví dụ:
    ki-lô-gam → ki lô/ kí lô/ ký
    (ông) cử nhân → (ông) cử
    (ông) tú tài → (ông) tú

    Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và nhiều khi chỉ vì lí do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay tiếng Việt mới có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu.

    Chẳng hạn:
    ve ve → ve
    bươm bướm → bướm
    đom đóm → đóm

    Rất nhiều tên gọi các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, các danh nhân, địa danh... trong tiếng Việt ngày nay đã được rút gọn lại như vậy. Ví dụ:
    Đảng Cộng sản Việt Nam → Đảng
    hợp tác xã → hợp

    Xu hướng biến đổi một từ đơn giản thành một từ có cấu trúc phức tạp hơn, trong tiếng Việt hiện nay không thấy có. Rất có thể vì nó trái với nguyên tắc tiết kiệm mà người sử dụng ngôn ngữ thường xuyên phải tính đến.

    3.2. Lâm thời phá vỡ cấu trúc của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu tố khác ngoài từ chen vào.
    Ví dụ:
    khổ sở → lo khổ lo sở
    ngặt nghẽo → cười ngặt cười nghẽo
    danh lợi
    + ham chuộng → ham danh chuộng lợi

    Sự biến đổi theo kiểu này rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích. Cũng có khi người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng yếu tố tạo từ với tư cách như một từ.
    Ví dụ:
    tìm hiểu → tìm mà không hiểu
    đánh đổ → đánh mãi mà không đổ...

    (Nguồn Dây Tơ Hồng)



    +3 EXP
    Share |

  14. Đã có 3 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    6941ƃuopƃuonɥdıɐƃoɔ (29-01-2012), MinhMinh (07-02-2012), thienthanh (01-02-2012)

  15. #8
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 6:

    QUI TẮC LÀM THƠ

    1/ TIẾNG BẰNG TIẾNG TRẮC

    Theo chữ Quốc Ngữ , thì Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng êm dịu và có thể đọc kéo dài ra được như chữ không có dấu gọi là giọng bằng cao và chữ có dấu huyền gọi là giọng bằng thấp .

    Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng ngắn ngủn , không đọc dài ra được, như những tiếng có chữ C , CH , P , T đứng ở cuối tiếng và những tiếng có dấu sắc, ngã , hỏi, nặng .

    Vì âm hưởng tiếng Bằng và tiếng Trắc , khác nhau như thế cho nên phải xếp những tiếng ấy cho khéo thì mới tạo thành ra một thứ âm điệu nghe hay và dễ đọc . Nếu không , thì đọc lên sẽ sượn và nghe chướng tai

    2/ TIẾNG BỔNG TIẾNG TRẦM

    Trong những tiếng BẰNG và tiếng TRẮC , tiếng nào cũng có thứ tiếng BỔNG và tiếng TRẦM .

    Tiếng BỔNG trong tiếng Bằng là những tiếng KHÔNG có dấu huyền

    Ví dụ: chữ La

    Tiếng TRẦM là những tiếng Có dấu huyền .

    Ví dụ: chữ Là

    Khi ta đọc chữ La và chữ Là tuy hai chữ cùng là tiếng bằng, song hai chữ đó có âm giọng khác nhau, chữ Là nghe thấp giọng hơn chữ La


    Tiếng BỔNG trong tiếng Trắc là những tiếng có dấu sắc và dấu ngã

    Ví dụ: Lá , Lã

    Tiếng TRẦM là những tiếng có dấu hỏi và đấu nặng

    Ví dụ: Lả , Lạ

    Nếu chúng ta biết sắp xếp đúng tiếng Trầm và tiếng Bổng thì bài thơ nghe du dương hơn .
    Dầu vậy khi làm thơ Lục Bát thì câu Bát chữ thứ 6 là tiếng Trầm thì chữ thứ 8 phải là tiếng Bổng
    Hoặc nếu trong câu bát chữ thứ 6 là tiếng Bổng thì chữ thứ 8 phải là tiếng Trầm, nói cho dễ hiểu hơn là

    Trong câu BÁT , chữ thứ 6 là KHÔNG DẤU thì chữ thứ 8 phải là dấu HUYỀN
    Nếu chữ thứ 6 la`dấu HUYỀN thì chữ thứ 8 phải là KHÔNG DẤU
    Đó là luật định cho câu thơ Lục Bát

    3/VẦN

    Làm thơ thì phải có vần thì đọc nghe êm và trôi chảy . VẦN nghĩa là tiếng này với tiếng kia có cùng âm-hưởng . Tiếng bằng vần với tiếng bằng , tiếng trắc vần với tiếng trắc, khi hai tiếng đồng một giọng phát âm thì thành vần được . Hai tiếng không đúng vần với nhau thì âm điệu sẽ lạc như vậy là trái luật thơ

    a) Những tiếng có chữ nguyên âm như : a , e , ê , i , o , ô , ơ , u , ư đứng ở cuối tiếng, thì theo tiếng bằng tiếng trắc mà vần với tiếng khác cũng có một chữ nguyên-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

    B) Những tiếng có chữ phụ âm như: c , ch , m , n , ng , nh , p , t đứng cuối tiếng, thì nhất định phải vần với tiếng khác cũng có phụ-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

    Vần chia ra làm hai loại : vần bằng và vần trắc .

    Vần bằng là những tiếng bằng vần với nhau, vần trắc là những tiếng trắc vần với nhau

    Mỗi loại vần ấy lại chia ra làm hai thứ vần, là vần chính và vần thông

    A/ Vần chính

    Vần chính của vần bằng - là những tiếng cùng đồng một âm vần với nhau như : ơ vần với ơ , ân vần với ân hay uôn vần với uôn

    Ví dụ:

    Hôm nay tôi học làm thơ
    Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn
    Khi làm thơ phải cho suôn
    Luật thơ Bằng Trắc vô khuôn Âm Vần



    Vần chính của vần trắc- là những tiếng cùng đồng một âm vần trắc với nhau như : ở vần với ở , ước vần với ước

    Ví dụ:

    Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở
    Giống tình anh mới trở cơn say

    Anh ở đó luôn chờ đợi ước
    Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau


    B/ Vần thông

    Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính , nhưng có thể hợp để vần với nhau , do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông
    Sau đây là những vần ta có thể thế vô cho vần để được linh hoạt hơn trong khi làm thơ .

    1/ Vần thông của vần bằng
    a) những vần thông có chữ nguyên-âm đứng ở cuối tiếng

    a, ơ --> thông với nhau được

    Vidụ :

    Vần thông ghép chữ như là
    Đi chung được với chữ tờ này đây

    Ví dụ: ơ, ư

    Ơ Ư cũng dễ lắm cơ
    Bây giờ bạn ráp chữ thư được mà

    Ví dụ: e, ê, i

    Nhờ E có nghĩa là nhe
    Gờ hÌ ta có ôm ghì đầu thôi

    có ai nhức đầu hong vậy ?

    Thêm câu hỏi cái chữ gì ?
    Vì vô đây học nhớ về vần thông

    Ví dụ: o, ô, u

    Hôm nay trời có mưa to
    Nhớ mở nắp hồ cho nước chảy vô (lục bát biến thể )
    Đầy rồi thì hứng thêm lu
    Phòng khi cúp nước khỏi lo sợ gì

    Ví dụ: ai, ay
    Mong rằng trời nắng ngày mai
    Bao nhiêu bạn đến hăng say làm bài

    ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui
    ao, eo, êu, iêu, iu, ưu

    B) Những vần thông có phụ âm đứng cuối tiếng

    am, ơm --> đi chung với nhau được
    ăm, âm
    êm, im
    an, ơn
    ăn, ân, uân

    en, in, iên, uyên
    on, ôn, uôn
    on, un
    ang, ương --> nhưng không đi được với uông

    ăng, âng , ưng
    ong, ông, ung
    uông, ương
    anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được

    2/ Vần thông của vần trắc

    é, ị --> đi chung với nhau được
    ổ, ũ
    ọ, ủa
    ĩa, uệ
    áo, iễu
    ói, ủi
    ác, ước
    ấc, ực
    ạm, ợm
    ặn, ẩn
    óng, úng
    ật, ắt
    ật, ứt
    út, uốt

    ** Có bốn điều hệ-trọng nên nhớ trong sự gieo vần quốc-ngữ

    1.- Trong sự gieo vần quốc-ngữ, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-âm c, m, n, p, t thành một âm ghép như:

    ac, ăc, âc
    am, ăm, âm
    an, ăn, ân
    ap, ăp, âp
    at, ăt,ât

    những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trên ví dụ:

    Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất, mắt, mất
    Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm
    Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ

    2.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ- âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

    en, in vần với yên, uyên

    ân vần với uân

    ơn vần với oan

    on vần với uôn

    khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

    ang thông với ương

    uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô

    3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:

    oa, oe, uê, uy

    thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên

    oa vần với a

    oe vần với e

    uê vần với ê

    uy vần với i

    uây vần với ây

    Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .

    4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác nhau, thì vần với nhau được.

    (Nguồn Áo Trắng Cần Thơ)



    +5 EXP
    Share |

  16. Đã có 6 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    6941ƃuopƃuonɥdıɐƃoɔ (29-01-2012), ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (23-02-2012), HGTH.VN (29-01-2012), thienthanh (01-02-2012), Toshiro_tonfa (04-02-2012), Tre xanh (02-02-2012)

  17. #9
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Phụ lục Bài 6:

    Các bạn lưu ý đây chỉ là các bài hướng dẫn cách làm thơ chứ không dạy làm thơ. Nếu làm thơ ai cũng dạy được thì tất cả các tiến sĩ văn,thạc sĩ văn,giảng viên văn và giáo viên văn đều đã trở thành nhà thơ hết! Các bạn cần phân biệt để tránh bị lầm lẫn:

    1. Người biết làm thơ
    2. Người làm thơ được
    3. Tác giả thơ
    4. Nhà thơ.

    Từ xưng
    nhà thơ cũng vậy. Có loại "nhà thơ tự phong", "nhà thơ do bạn bè gọi", "nhà thơ của câu lạc bộ thơ", "nhà thơ do người ta lịch sự gọi"... Nói chung bây giờ ra đường ai cũng đều có thể tự xưng mình là "nhà thơ cả".

    Nếu chú ý các bạn sẽ thấy nhiều nhà thơ thật sự họ gọi nhau rất cẩn trọng, có phân biệt hẳn hoi. "Bạn thơ" là người có nhiều sáng tác nhưng thơ chưa hay, "tác giả" là người có tác phẩm nổi tiếng nhưng thơ chưa đủ nhiều để trở thành nhà thơ. Còn "nhà thơ" không phải là từ do mình tự phong cho mình, "nhà thơ" phải là từ do các công văn của Hội nhà văn (gồm những người sáng tác văn học chuyên nghiệp) gọi khi gởi cho các hội viên, hoặc những người không vào Hội nhà văn nhưng vẫn xứng đáng là nhà thơ (ví dụ nhà văn Lý Lan, nhà thơ Thái Thanh Nguyên,...). Và ngoài đời nhiều nhà thơ thật sự vẫn có thói quen khiêm tốn tự gọi mình là tác giả, hoặc người sáng tác thơ.

    Có một câu chuyện khá vui là khi dự đám cưới của một nhà thơ nữ, anh Văn do đến trễ nên khi đến ngồi vào một bàn gồm 10 người. Họ hỏi anh Văn, anh Văn bảo anh Văn là giáo viên dạy Vật Lý. Còn 9 người kia đều tự xưng là nhà thơ cả, nhưng anh Văn nhìn mãi chẳng thấy một ai quen, dù là chỉ gặp qua một lần! Còn 9 bút hiệu của họ anh Văn cũng chưa hề nghe hoặc được đọc bao giờ!

    Muốn làm thơ hay các bạn phải tự học. Đã rất nhiều người hỏi anh Văn bí quyết để có thơ đăng báo.

    Hỏi: mình thì chưa bao giờ có thơ được đăng báo dù đã gửi cho khá nhiều tờ báo, anh Thanh Trắc Nguyễn Văn có bí quyết nào không chỉ mình với (mình chỉ được đăng báo ở trường mà thôi) (Nguyệt Chi - Blogger My Opera)

    Trả lời:
    Tại sao bạn không hỏi phương pháp "học" mà chỉ lo hỏi bí quyết?
    Thật ra không có bí quyết gì cả mà chỉ có phương pháp "học" mà thôi

    1.Bạn hãy "học" thơ của những nhà thơ đã thành danh
    2.Báo nào không đăng thơ của bạn,bạn hãy "học" những bài thơ đã được đăng trên báo đó để rút kinh nghiệm cho sáng tác của mình
    3.Thường xuyên nghiền ngẫm những lời bình của những bài thơ hay
    4.Đừng bao giờ nghe lời bạn bè "khen" thơ của bạn hay! Nếu thơ bạn được đăng báo cũng có nghĩa là thơ của bạn đã được những người biên tập có "chuyên môn về văn học" công nhận là hay rồi đó
    Chúc bạn Nguyệt Chi vui nhiều



    +4 EXP
    Share |

  18. Đã có 3 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    HGTH.VN (02-02-2012), Toshiro_tonfa (04-02-2012), Tre xanh (02-02-2012)

  19. #10
    HGTH's Love
    thanhtracnguyenvan's Avatar

    Tham gia ngày: Apr 2011
    Bài gởi: 5,530
    Ðang: thanhtracnguyenvan is offline
    Credits 68,809
    Được cám ơn: 5,667 lần
    56
    MASTER
     
     

    Hướng dẫn các bước cơ bản làm thơ

    Nguồn từ HGTH.VN: http://hgth.vn/diendan/showthread.php?t=25132

    Bài 7:

    Các ghi chú về thanh, âm và vần: Đây là phần căn bản, quan trọng nhất mà người làm thơ cần phải biết...


    * Thanh: Ở phần này, mọi người chỉ cần ghi nhớ là có hai loại, đó là thanh bằng và thanh trắc.

    1. Thanh bằng: bao gồm các chữ không mang dấu hay mang dấu huyền.

    Ví dụ:
    Con mèo quào con cào cào <--- tất cả đều mang dấu huyền, tất cả đều là thanh bằng.
    Ngang ngang như con cua <--- tất cả đều không dấu, tất cả đều là thanh bằng.


    2. Thanh trắc: bao gồm các chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.

    Ví dụ:
    Hết cả nước lẫn cái <---- tất cả đều là thanh trắc

    *Vần:

    1. Vần bằng: là các từ có cùng âm và đều là thanh bằng.

    Ví dụ:
    Anh không ngủ được ư anh?
    Để em mở quạt quấn mành lên cho.
    Chữ anh và mành ở đâu đều là thanh bằng, và đều cùng âm.


    2. Vần trắc: là các từ có cùng âm và đều là thanh trắc.

    Ví dụ:
    Gia tài em chỉ có bàn tay,
    Em trao tặng cho anh từ ngày ấy,
    Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy,
    Quá khứ dài là mái tóc em đen.
    (Bàn Tay-Xuân Quỳnh.)
    Chữ ấy và thấy ở đây đều có thanh trắc và cùng âm.

    3. Tiếng bằng và tiếng trắc không vần với nhau.

    Ví dụ: thanh không vần với thánh; (lả) lơi không vần với (tiến) tới.

    *Gieo vần: phần này sẽ nói thêm chi tiết khi vào từng thể loại thơ.

    1. Vần chéo.

    Ví dụ:
    Những ngày không gặp nhau
    Biển bạc đầu thương nhớ
    Những ngày không gặp nhau
    Lòng thuyền đau-rạn vỡ
    (Thuyền và Biển-Xuân Quỳnh)

    Vần xanh và đỏ chéo nhau

    2. Vần ôm.

    Ví dụ:
    Tình giờ đã hết
    Khi chàng ra đi
    Tình xưa phân ly
    Nụ cười cũng chết

    Vần đỏ ôm vần xanh vào giữa

    3. Vần ba tiếng.

    Ví dụ:
    Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
    Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
    Tấc gang tay họa thơ không dứt,
    Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
    (Duyên kỳ ngộ-Hồ Xuân Hương.)

    3 vần đỏ

    4. Vần giữa câu và cuối câu.

    Ví dụ:
    Kiều càng sắc sảo mặn
    So bề tài sắc lại phần hơn.
    Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
    (Truyện Kiều-Nguyễn Du)

    Vần giữa câu (yêu vận) và vần cuối câu (cước vận) thường có trong thơ lục bát



    +1 EXP
    Share |

  20. Đã có 4 thành viên nói cảm ơn tới thanhtracnguyenvan cho bài viết có ý nghĩa:

    ღ→ Hứa Như Thường ←ღ (23-02-2012), HGTH.VN (03-02-2012), MinhMinh (07-02-2012), Toshiro_tonfa (04-02-2012)

+ Trả Lời Ðề Tài+ Gởi Ðề Tài Mới
Trang 1/8 1 2 3 ... cuốicuối

Người dùng tìm thấy trang này qua từ khóa:

huong dan lam nha bang tam tre

cac buoc lam nha bang tam tre

huong dan lam tho

huong dan lam nha bang tam tre don gian

hướng dẫn làm thơ

tung buoc lam nha bang tam trecac buoc lam nha tamcac buoc lam nha bang tamhuong dan nha bang tam treday cac buoc lam tinhHuong dan lam nha bang tamhuong dan chi tiet lam nha bang tam trehuong dan lam thuyen bang tam trecac buoc lam nha tam trehuong dan cac buoc lam nha bang tamsach huong dan lam nha bang tam trechi dan cach lam nha bang tam trehuong dan lam tam trehuong dan lam nha bangtam trwhuong dan lam nhà bang tamhuong dan lam nha tamhuong dan tung buoc lam nha bang tam lam nha bang tam tre don gian tung buoc chi tiethuong dan lam nha bang que tamlam nha bang tam huong dan

Thẻ cho đề tài này

Bookmarks

Textlink: ga dong tao   information website